Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

NGOẠI GIAO NƯỚC LỚN

Chủ tịch nước: 'Giải quyết vấn đề Biển Đông là hệ trọng'
Trước chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc, Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang trả lời phỏng vấn báo chí Trung Quốc, đề ra các biện pháp thúc đẩy quan hệ song phương trong đó có giải quyết vấn đề Biển Đông.
chutichnuoc-439420-1371629427_500x0.jpg
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Ảnh: TTXVN
Dưới đây là nội dung cuộc trả lời phỏng vấn: 
- Xin Chủ tịch nước đánh giá về quan hệ Trung - Việt hiện nay và triển vọng của quan hệ hai nước trong tương lai? Chủ tịch nước có kiến nghị gì nhằm thúc đẩy tăng cường hơn nữa hợp tác chiến lược toàn diện Trung - Việt?
- Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng gần gũi, nhân dân hai nước có truyền thống hữu nghị lâu đời. Trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước của mỗi nước, nhân dân hai nước đã dành cho nhau sự ủng hộ quý báu và hiệu quả. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trước sau như một hết sức coi trọng việc phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc.
Trong những năm qua, với nỗ lực chung của cả hai bên, quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt - Trung không ngừng được củng cố và phát triển, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển và đi lên của mỗi nước. Giao lưu chính trị không ngừng được thúc đẩy, các chuyến thăm, gặp gỡ và trao đổi giữa Lãnh đạo hai nước diễn ra thường xuyên. Hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch... có nhiều bước phát triển mới. Hợp tác giữa các Bộ, ngành, giao lưu giữa các địa phương, đoàn thể quần chúng và trong các lĩnh vực văn hoá, thể thao, nghệ thuật, giáo dục đào tạo… ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Hiện nay, công cuộc xây dựng và phát triển của Việt Nam và Trung Quốc đều đang đứng trước những thời cơ mới cũng như đang gặp phải những thách thức mới. Hơn bao giờ hết, cả hai nước đều cần môi trường quốc tế và khu vực hòa bình, ổn định để tập trung phát triển đất nước. Tháng 3 vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã có cuộc điện đàm hết sức quan trọng, đưa ra nhiều ý kiến chỉ đạo về việc không ngừng củng cố và tăng cường quan hệ giữa hai Đảng, hai nước. Tại phiên họp lần thứ 6 Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc tháng 5 vừa qua, hai bên cũng đã đạt nhiều thỏa thuận cụ thể nhằm tăng cường hợp tác giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực. Để tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước đi vào chiều sâu, tôi cho rằng hai nước cần cùng nhau nỗ lực làm tốt một số việc sau đây:
Một là, tăng cường tin cậy chính trị, trong đó quan trọng nhất cần duy trì và đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, tiếp xúc giữa Lãnh đạo cấp cao, cũng như giữa các Bộ/ngành, địa phương hai nước. Lãnh đạo cấp cao hai nước cần thường xuyên đi thăm nhau, gặp gỡ, trao đổi với nhiều hình thức linh hoạt, phong phú để kịp thời định hướng về những phương hướng lớn thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước.
Hai là, củng cố và mở rộng cơ sở hợp tác cùng có lợi giữa hai bên trên mọi lĩnh vực, nhất là về kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo, du lịch... Hai bên cần tăng cường điều phối chiến lược về phát triển kinh tế, đẩy mạnh hợp tác cùng có lợi trên tất cả các lĩnh vực.
Ba là, không ngừng kế thừa và phát huy tình hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước, làm phong phú thêm nội dung giao lưu hợp tác hữu nghị giữa các tầng lớp nhân dân hai nước, nhất là thế hệ trẻ, tăng cường tuyên truyền về công cuộc phát triển mỗi nước cũng như tình hữu nghị Việt - Trung.
Bốn là, xuất phát từ quan hệ láng giềng hữu nghị Việt - Trung, trên cơ sở nhận thức chung giữa Lãnh đạo cấp cao hai nước và luật pháp quốc tế, kiên trì thông qua các biện pháp hòa bình, hiệp thương hữu nghị, xử lý thỏa đáng mọi bất đồng và những vấn đề nảy sinh trong quan hệ hai nước, duy trì cục diện ổn định của quan hệ hai nước.
Có thể thấy, hai nước có nhiều tiềm năng, thế mạnh để tăng cường hơn nữa hợp tác trong tương lai.
- Hợp tác Trung - Việt trong lĩnh vực kinh tế thương mại không ngừng phát triển với kim ngạch thương mại song phương đạt trên 40 tỷ USD và mục tiêu tới năm 2015 đạt mức 60 tỷ USD. Xin Chủ tịch nước cho biết tiềm năng hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai nước, những vấn đề tồn tại và những biện pháp nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại nâng lên tầm cao mới?
Hai nước đều coi hợp tác kinh tế, thương mại là bộ phận quan trọng trong tổng thể quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước. Tiềm năng hợp tác kinh tế thương mại, giữa hai nước là rất lớn và chúng ta cần cùng nhau khai thác những lợi thế của mỗi nước.
Việt Nam và Trung Quốc là hai thị trường quan trọng của nhau, lượng hàng hóa lưu thông hai nước rất đa dạng và ngày càng tăng. Tuy nhiên, tình trạng nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc hiện nay còn lớn, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng bền vững của thương mại song phương. Trong thời gian tới, bên cạnh việc thúc đẩy thương mại song phương tăng trưởng ổn định, hai bên cần cùng nhau áp dụng những biện pháp quyết liệt, có hiệu quả để sớm giảm nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc. Mặt khác, đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam thời gian qua vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước. Tôi cho rằng, các ngành chức năng hai nước cần cùng nhau đánh giá kỹ những nguyên nhân cũng như bài học kinh nghiệm về việc tại sao đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam thời gian qua còn khiêm tốn, để từ đó có những biện pháp hiệu quả đẩy mạnh hợp tác đầu tư giữa hai nước trong thời gian tới. Việt Nam hoan nghênh các dự án đầu tư lớn, mang tính tiêu biểu, với công nghệ hiện đại và thiết bị tiên tiến của Trung Quốc vào Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, chế tạo, công nghiệp phụ trợ... Và Việt Nam cũng mong muốn đưa thêm nhiều hàng hóa hơn nữa sang Trung Quốc, nhất là trong lĩnh vực nông sản, thủy hải sản...
Trong thời gian tới, chúng ta cần nỗ lực hơn nữa để tìm ra những phương hướng và biện pháp hữu hiệu thúc đẩy hợp tác cùng có lợi, trong đó trước mắt cần thực hiện tốt những thỏa thuận đã ký, nhất là Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế thương mại Việt - Trung giai đoạn 2012-2016..., nhằm đưa kim ngạch thương mại hai nước phát triển bền vững hơn, cân bằng hơn, góp phần thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt - Trung ngày càng phát triển.
- Xin Đồng chí Chủ tịch nước cho biết ý kiến trong việc xử lý và giải quyết những vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc?
Chúng ta đã có nhiều nỗ lực và kinh nghiệm quý báu trong xử lý các vấn đề gay go, phức tạp trong quan hệ hai nước, đáng kể nhất là việc hai nước đã giải quyết xong vấn đề biên giới trên đất liền và phân định Vịnh Bắc Bộ. Cũng trên tinh thần đó, lãnh đạo hai nước đã nhiều lần trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn và đạt nhiều nhận thức chung quan trọng trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông. Trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tháng 10/2011, hai nước đã ký Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc, trong đó hai bên nhất trí cần nghiêm chỉnh tuân thủ nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước, kiên trì giải quyết vấn đề Biển Đông bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).
Tuy nhiên, có thể khẳng định việc giải quyết vấn đề Biển Đông là hết sức hệ trọng vì liên quan đến chủ quyền lãnh thổ, đến tâm tư tình cảm thiêng liêng của dân tộc, của người dân. Tôi cho rằng, thời gian tới, Lãnh đạo cấp cao hai nước cần duy trì trao đổi và đối thoại thường xuyên, từ tầm cao chiến lược và quan hệ hữu nghị hai nước, chỉ đạo và thúc đẩy giải quyết vấn đề Biển Đông bằng biện pháp hòa bình. Có như vậy mới không ảnh hưởng đến quan hệ hữu nghị, tin cậy chính trị hai nước cũng như tình cảm của người dân hai nước. Tôi trông đợi trong chuyến thăm Trung Quốc sắp tới sẽ cùng các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc trao đổi thẳng thắn, chân thành, tiếp tục có thêm những giải pháp để giải quyết thỏa đáng những bất đồng trên biển giữa hai nước, góp phần thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước phát triển lành mạnh, ổn định lâu dài, đóng góp cho việc duy trì hòa bình, ổn định tại Biển Đông.
Ngoài ra, đối xử nhân đạo với ngư dân, xử lý thỏa đáng vấn đề nghề cá phù hợp với quan hệ hữu nghị hai nước cũng là một trong những nhận thức chung quan trọng của Lãnh đạo cấp cao hai nước. Tôi đã đi thăm nhiều vùng ven biển của Việt Nam, đã gặp gỡ nhiều ngư dân, họ đều là những người lao động chăm chỉ và còn rất nhiều khó khăn, đời sống gia đình nhiều đời nay chỉ dựa vào nghề đánh bắt cá truyền thống trên biển Đông. Do vậy, trong thời gian tới chúng ta cần quan tâm đầy đủ đối với ngư dân, giúp họ có cuộc sống ngày càng tốt đẹp, yên ổn và bền vững hơn. Điều này cũng là phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.
- Trung Quốc và Việt Nam đều đang thúc đẩy sự nghiệp cải cách mở cửa và đổi mới, nhân dân Trung Quốc đang phấn đấu để thực hiện “Giấc mơ Trung Hoa”, nhân dân Việt Nam cũng đang nỗ lực thực hiện mục tiêu tới năm 2020 đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đồng chí Chủ tịch nước đánh giá thế nào về sự phát triển của mỗi nước?
Hai nước, hai dân tộc đều có mong muốn là xây dựng đất nước hòa bình, ổn định, thịnh vượng. Công cuộc cải cách, đổi mới vừa qua ở cả Trung Quốc và Việt Nam đã đưa hai nước phát triển mạnh mẽ, mang lại đời sống ngày càng tốt đẹp cho người dân, đóng góp vào sự phát triển và thịnh vượng chung của khu vực và thế giới, mang lại vị thế quốc tế ngày càng cao cho hai nước.
Để tiến xa hơn nữa, Việt Nam cũng như Trung Quốc cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách, đổi mới, nhận diện và vượt qua những thách thức, khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội, như khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, biến đổi khí hậu, môi trường, tăng trưởng bền vững…
Bên cạnh những nỗ lực của mỗi nước, việc chúng ta xây dựng được quan hệ hợp tác hữu nghị ngày càng tốt đẹp có ý nghĩa quan trọng, tạo ra những cơ hội cho hai nước cùng phát triển, biến ước mơ, mục tiêu hòa bình, thịnh vượng của mỗi nước trở thành hiện thực. Đảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực quyết tâm thực hiện thành công mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh. Tôi cũng chúc Đảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc giành được những thành tựu to lớn hơn nữa, sớm hoàn thành xây dựng một xã hội khá giả toàn diện.
- Đồng chí Chủ tịch nước từng nhiều lần thăm Trung Quốc, là người bạn cũ của nhân dân Trung Quốc. Nhân dịp Đồng chí sắp sang thăm lại Trung Quốc, Đồng chí có muốn gửi gắm điều gì tới nhân dân Trung Quốc?
- Tình hữu nghị Việt - Trung là tài sản chung vô cùng quý giá của nhân dân hai nước do các thế hệ lãnh đạo tiền bối và nhân dân hai nước dày công vun đắp. Chúng ta đều có trách nhiệm giữ gìn, kế thừa và phát huy. Trong chuyến thăm Trung Quốc lần này, tôi sẽ đến thăm Quảng Châu, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều nhà cách mạng tiền bối của Việt Nam đã sinh sống và hoạt động cách mạng. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam không bao giờ quên sự giúp đỡ quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.
Có thể nói, chúng tôi hết sức coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc, coi đây là chính sách cơ bản, nhất quán, lâu dài và ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Thực tiễn chứng minh, chỉ có hữu nghị, hợp tác và cùng nhau phát triển trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi mới là sự lựa chọn duy nhất đúng của quan hệ hai nước, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích chung của nhân dân hai nước.
Nhân dịp này, qua các bạn phóng viên, tôi xin gửi tới nhân dân Trung Quốc lời thăm hỏi chân thành và hữu nghị. Chúc quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước chúng ta đời đời bền vững.


Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sắp thăm Trung Quốc
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sẽ có chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc từ ngày 19 tới 21/6, theo lời mời của Chủ tịch Tập Cận Bình.
chutichnuoc-538191-1371120726_500x0.jpg
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Ảnh: TTXVN
"Đây là chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc đầu tiên của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trên cương vị chủ tịch nước, và là chuyến thăm cấp nhà nước Trung Quốc đầu tiên của lãnh đạo Việt Nam sau khi Trung Quốc có ban lãnh đạo mới", người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, Lương Thanh Nghị cho biết trong cuộc họp báo thường kỳ hôm nay.
"Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm tăng cường sự tin cậy chính trị và hợp tác hữu nghị giữa hai đảng, hai nhà nước, định ra phương hướng lớn cho mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước đi vào chiều sâu, phát triển thực chất trên các lĩnh vực, vì sự phát triển của hai nước, vì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực", ông Nghị cho hay.
Trong thời gian ở thăm Trung Quốc, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sẽ hội đàm với Chủ tịch Tập Cận Bình và gặp các lãnh đạo cấp cao khác của Trung Quốc, thăm tỉnh Quảng Đông. Hai bên dự kiến sẽ ký kết một số thỏa thuận và văn kiện hợp tác.
Theo Vietnam+, trong 4 tháng đầu năm 2013, mặc dù kinh tế hai nước tiếp tục đối diện với nhiều thách thức, nhưng quan hệ thương mại song phương Việt Nam - Trung Quốc vẫn tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, đạt 14,3 tỷ USD, tức là tăng 20,6% so với cùng kỳ năm trước. Việt Nam và Trung Quốc đang hướng tới mục tiêu đưa kim ngạch xuất nhập khẩu lên mức 60 tỷ USD vào năm 2015.
Nhật Nam


Đại sứ Trung Quốc trả lời phỏng vấn báo Việt Nam
Nhân dịp Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sắp thăm cấp nhà nước Trung Quốc, đại sứ Trung Quốc Khổng Huyễn Hựu nói về triển vọng quan hệ hai nước và việc xử lý vấn đề còn tồn tại.
Ảnh: Vietnam+
 Ông Khổng Huyễn Hựu, đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam. Ảnh: Vietnam+
- Chủ tịch nước CHXNCN Việt Nam Trương Tấn Sang sẽ thăm cấp nhà nước CHND Trung Hoa vào ngày 19 đến 21/6, đại sứ có đánh giá như thế nào về chuyến thăm sắp tới này?
Đây là chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, cũng là cuộc tiếp xúc đầu tiên của nguyên thủ hai nước sau khi Quốc hội Trung Quốc bầu ra ban lãnh đạo khóa mới.

Trung Quốc đánh giá cao chuyến thăm lần này của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận thức chung trong quan hệ hợp tác, đối tác chiến lược toàn diện Trung - Việt. Hiện nay, quan hệ Trung - Việt đã đạt được những bước phát triển to lớn, bên cạnh những cơ hội quan trọng còn có những vấn đề cần phải giải quyết. Chúng tôi hy vọng và tin tưởng rằng, hai bên sẽ xuất phát từ toàn cục mối quan hệ Trung - Việt và đại cục sự nghiệp phát triển của mỗi nước.

Chuyến thăm Trung Quốc lần này của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sẽ góp phần thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển, đồng thời đạt được thỏa thuận trong các vấn đề tăng cường tin cậy lẫn nhau về chính trị, hợp tác hiệu quả và giải quyết thỏa đáng những bất đồng còn tồn tại giữa hai bên, thúc đẩy quan hệ Trung - Việt phát triển lên tầm cao mới. Hy vọng rằng với sự nỗ lực chung của hai bên, chuyến thăm Trung Quốc lần này của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sẽ thành công tốt đẹp.
Ông đánh giá như thế nào về mối quan hệ Việt - Trung hiện nay?
- Trong năm nay, dưới sự nỗ lực chung của hai nước, quan hệ hợp tác, đối tác chiến lược toàn diện Trung - Việt tiếp tục có những bước phát triển mới.
Thứ nhất, lãnh đạo cấp cao hai nước tiếp xúc thường xuyên hơn. Thứ hai, đưa việc giao lưu đã được cơ chế hóa đi vào chiều sâu. Thứ ba, hợp tác kinh tế thương mại giữa hai nước ngày càng mở rộng. Thứ tư, giao lưu nhân dân sôi nổi.
Thứ năm, hai bên cùng nỗ lực duy trì ổn định trên biển, thúc đẩy đàm phán phân định và cùng nhau khai thác vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc bộ, và hợp tác về lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển, đồng thời lần lượt thiết lập các cơ chế công tác phù hợp tại hai nước, nhất trí các dự án ưu tiên hợp tác như phối hợp tìm kiếm cứu nạn trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc...
- Theo ông tiềm năng và triển vọng phát triển mối quan hệ hai nước Việt - Trung như thế nào?
- Việt Nam và Trung Quốc là các nước láng giềng quan trọng của nhau. Hiện nay, cả hai nước Trung Quốc và Việt Nam đều đang phải đứng trước nhiệm vụ quan trọng là cải cách và phát triển, củng cố hơn nữa mối tình hữu nghị giữa hai nước, tăng cường hợp tác cùng có lợi, phù hợp với lợi ích chung của hai nước và nhân dân hai nước, phù hợp với yêu cầu của thời đại về sự nghiệp bảo vệ và phát triển xã hội chủ nghĩa, và cũng là sự lựa chọn chiến lược chung của hai nước.

Cho dù tình hình quốc tế có biến động ra sao, Trung Quốc đều sẽ kiên trì con đường phát triển hòa bình, kiên trì phương châm ngoại giao "Thân thiện với láng giềng, làm đối tác với láng giềng", phát triển quan hệ Trung - Việt theo phương châm 16 chữ "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" và tinh thần 4 tốt "Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt", có tầm nhìn chiến lược và dài hạn về mối quan hệ hợp tác đối tác toàn diện Trung -Việt.

Trung Quốc sẽ tiếp tục hợp tác với Việt Nam, tăng cường tin cậy lẫn nhau về chính trị, thúc đẩy hợp tác cùng có lợi, giải quyết thỏa đáng các bất đồng còn tồn tại, tiếp tục thúc đẩy quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện Trung-Việt lên một tầm cao mới, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.

Tôi tin rằng, với sự nỗ lực chung của hai bên, quan hệ chính trị giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ ngày càng vững chắc, quan hệ kinh tế thương mại sẽ ngày càng chặt chẽ, lĩnh vực hợp tác sẽ ngày càng rộng mở, quan hệ láng giềng hữu nghị sẽ ngày càng đi vào chiều sâu. Tương lai mối quan hệ Trung - Việt sẽ ngày càng tốt đẹp.
- Xin ngài đại sứ cho biết lãnh đạo mới của Trung Quốc có những biện pháp nào để tăng cường quan hệ hợp tác đối tác chiến lược Việt - Trung?
- Lãnh đạo Trung Quốc khóa mới rất coi trọng quan hệ giữa hai Đảng và hai nhà nước Trung Quốc và Việt Nam. Tôi cho rằng hai nước có thể thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực sau:

Thứ nhất, tăng cường giao lưu. Thứ hai, mở rộng hợp tác. Thứ ba, làm sâu sắc giao lưu văn hóa nhân dân. Thứ tư, giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển. Thứ năm, phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn đa phương.
- Trong bối cảnh diễn biến phức tạp của tình hình khu vực và thế giới hiện nay, xin hỏi đại sứ hai nước nên làm như thế nào để xử lý thỏa đáng vấn đề tồn tại?
- Vấn đề trên biển là vấn đề duy nhất còn tồn tại, chưa được giải quyết giữa hai nước, gây cản trở nhất định cho việc phát triển quan hệ và cũng là thực trạng mà hai bên đều không mong muốn. Vấn đề trên biển vô cùng phức tạp và nhạy cảm nên để giải quyết một cách triệt để cần phải có thời gian.

Để giải quyết một cách thỏa đáng và từng bước vấn đề trên biển, lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được nhận thức chung quan trọng, hai bên đã ký "Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển", trong đó trọng tâm là cần phải xuất phát từ đại cục hữu nghị giữa hai nước, thông qua đàm phán hiệp thương để giải quyết, không để khác biệt giữa hai bên ảnh hưởng đến sự phát triển thuận lợi của quan hệ hai nước, tạo môi trường phát triển tốt đẹp cho mỗi bên.

Theo nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai bên, hai bên đã thành lập cơ chế đàm phán biên giới cấp chính phủ và chuyên gia, đồng thời không ngừng bàn bạc và hiện đã đạt được bước tiến triển tích cực.

Điều tôi muốn nhấn mạnh là Trung Quốc và Việt Nam là hai nước XHCN láng giềng, đang cùng ở trong giai đoạn then chốt của tiến trình cải cách và phát triển, việc củng cố mối quan hệ Trung-Việt, tăng cường hợp tác cùng có lợi phù hợp với lợi ích cơ bản của cả hai nước và nhân dân hai nước, có lợi cho việc bảo vệ và phát triển sự nghiệp XHCN, đồng thời cũng có lợi cho hòa bình, ổn định và phồn vinh tại khu vực. Đó chính là đại cục của quan hệ hai nước.

Chỉ cần hai bên cùng xuất phát từ đại cục này, thực hiện và tuân thủ nghiêm ngặt nhận thức chung có liên quan của lãnh đạo cấp cao hai nước và thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển, kiểm soát hữu hiệu khác biệt, tích cực tìm kiếm hợp tác và thiết thực duy trì ổn định… nhất định sẽ xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển.
- Đại hội 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trương chú trọng phát triển quan hệ với ASEAN và các nước láng giềng, trong đó có Việt Nam. Xin đại sứ giới thiệu cụ thể hơn về chính sách này?
- Báo cáo của Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ rõ "Chúng ta sẽ kiên trì thân thiện với láng giềng, làm đối tác với láng giềng, củng cố và làm sâu sắc hợp tác cùng có lợi với láng giềng, nỗ lực biến sự phát triển của mình thành điều có lợi cho các quốc gia xung quanh". Đây không những là cam kết chính trị mà Trung Quốc đưa ra với các nước xung quanh, trong đó bao gồm cả ASEAN, mà còn là tín hiệu tích cực đối với việc tiếp tục củng cố và phát triển hợp tác hữu nghị với các nước xung quanh.

Chính phủ khóa mới của Trung Quốc rất chú trọng quan hệ với các nước xung quanh, coi ASEAN là vị trí ưu tiên và hàng đầu trong chính sách đối ngoại xung quanh của mình. Trung Quốc kiên trì ủng hộ sự phát triển lớn mạnh của các nước ASEAN, trong đó bao gồm cả Việt Nam; kiên trì ủng hộ tiến trình cộng đồng và nhất thể hóa mà ASEAN đang thúc đẩy; kiên trì ủng hộ vai trò chủ đạo của ASEAN trong hợp tác khu vực. Trung Quốc mong muốn củng cố và làm sâu sắc quan hệ đối tác chiến lược với ASEAN, nỗ lực thúc đẩy các hạng mục trọng điểm trong kết nối, hợp tác trên biển và quan hệ đối tác kinh tế toàn diện tại khu vực để cùng thúc đẩy hòa bình, ổn định và phồn vinh tại khu vực.


Việt Nam kêu gọi một Biển Đông 'không tiếng súng'
'Nếu không có hòa bình thì đó là thảm họa, không chỉ với Việt Nam, Trung Quốc mà còn với cả cộng đồng thế giới. Trong bối cảnh Việt Nam và Trung Quốc đang có một số tranh chấp, cả thế giới đang nhìn vào hai nước', Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh đối thoại với một số tờ báo lớn ở Trung Quốc.
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh cho biết ông đã có cuộc đối thoại với Trung tướng, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc Thích Kiến Quốc. Hai bên không né tránh những khác biệt giữa hai nước, đặc biệt là vấn đề Biển Đông, và đã thống nhất cùng nhau tạo môi trường hòa bình trên Biển Đông để từng bước giải quyết tranh chấp, đem lại lợi ích hài hoà, cùng có lợi cho mỗi nước, trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Dưới đây là lược thuật cuộc phỏng vấn, với sự tham gia của các hãng Trung Hoa nhật báo, Hoàn cầu thời báo, Tân Hoa xã, Tuần báo Phương Nam...
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh trong cuộc trả lời phỏng vấn các báo lớn của Trung Quốc.
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh trong cuộc trả lời phỏng vấn các báo lớn của Trung Quốc, sau Đối thoại chiến lược quốc phòng Việt - Trung ngày 5-6/6 .
- Bình luận của ngài về các ý kiến cho rằng Việt Nam đang có ý định liên minh với nước ngoài để chống Trung Quốc? Đánh giá của ngài về chiến lược châu Á - Thái bình dương của Mỹ?
- Cả trong hành động cụ thể cũng như trên những nguyên tắc chiến lược cơ bản của Việt Nam không hề có chuyện Việt Nam liên minh với nước thứ ba để chống Trung Quốc. Chiến lược bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam theo nguyên tắc độc lập tự chủ, dựa trên sức mạnh của mình là chính, tuyệt đối không liên minh với nước này để chống nước kia.
Những ai có tầm nhìn chiến lược cũng như sự tỉnh táo về mặt chính trị đều hiểu rằng một nước nhỏ mà liên minh với một nước này để chống một nước khác là tự hại mình. Trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, Việt Nam quan hệ với rất nhiều nước trên thế giới và thực tế đã chứng minh rằng Việt Nam đã thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, là đối tác tin cậy, là bạn với tất cả các nước; các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam không gây phương hại đối với bất cứ một quốc gia nào.
Về chiến lược tái cân bằng của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương: Nếu chiến lược này đem lại hòa bình, ổn định, bình đẳng cho tất cả các quốc gia trong khu vực, tôn trọng luật pháp quốc tế thì không có gì phản đối. Ngược lại, chúng ta phản đối nếu chiến lược đó phương hại đến lợi ích các quốc gia và hòa bình trong khu vực.
- Tại Đối thoại Shangri-La 12, Việt Nam đã đề nghị thiết lập một thỏa thuận an ninh trên biển. Phải chăng điều này phản ánh dư luận trong một số cư dân mạng ở Việt Nam tỏ ra lo ngại trước sự lớn mạnh của Trung Quốc?
- Tôi không không nghĩ như vậy và tôi tin rằng đa số người dân trên thế giới cũng không nghĩ như vậy. Sự phát triển của Trung Quốc cũng là sự phát triển chung của thế giới. Nếu sự phát triển này đem lại hòa bình, ổn định và trên tinh thần hợp tác. thì Việt Nam ủng hộ sự phát triển của Trung Quốc.
Việc Việt Nam đề nghị kiến tạo môi trường hòa bình trên biển là rất quan trọng vì có giữ được môi trường hòa bình thì mới cùng nhau giải quyết các vấn đề còn khúc mắc. Nếu không có hòa bình thì đó là thảm họa, không chỉ với Việt Nam, Trung Quốc mà còn với cả cộng đồng thế giới. Hiện nay, trong bối cảnh Việt Nam và Trung Quốc đang có một số tranh chấp, cả thế giới đang nhìn vào hai nước.
Tuyệt đại đa số những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới đều mong muốn hai nước láng giềng bình đẳng, có thể giải quyết êm đẹp những tranh chấp. Hai nước cần chứng tỏ với nhân dân mình và với thế giới rằng chúng ta có thể chung sống hữu nghị, cùng hợp tác phát triển, từng bước giải quyết những tranh chấp một cách hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Làm được điều đó sẽ đem lại lợi ích to lớn và là niềm tự hào của cả hai nước Việt Nam-Trung Quốc.
- Đề nghị ngài nói rõ hơn về việc Việt Nam đề nghị không sử dụng vũ lực trên biển?
- Việt Nam đề xuất không sử dụng vũ lực trên biển bởi đây là điều hết sức cần thiết, vì trong thời gian qua, đã có một số hành động manh động sử dụng vũ lực do cá nhân của một số quốc gia trên Biển Đông, gây dư luận rất xấu. Về thực chất, đề nghị của Việt Nam là kêu gọi hình thành một Biển Đông không tiếng súng.
- Với việc mua các tàu ngầm Kilo là loại tàu ngầm tấn công, trong khi Việt Nam nói rằng mình mua sắm vũ khí “chỉ vừa đủ để tự vệ”, phải chăng chính sách quốc phòng của Việt Nam đã thay đổi?
- Điều quan trọng là vũ khí nằm trong tay ai! Nó có thể giết người, nhưng cũng có thể để tự bảo vệ mình; thậm chí có những lúc, vũ khí đó là để bảo vệ hòa bình. Vấn đề là người cầm vũ khí đó là ai, đường lối của người đó như thế nào.
Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh đã tuyên bố với thế giới trên Diễn đàn Đối thoại Shangri-La hồi năm ngoái rằng Việt Nam mua tàu ngầm lớp Kilo về chỉ để bảo vệ vùng biển của Việt Nam, gồm thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế và lãnh hải của Việt Nam, không có mục đích sử dụng nào khác.
- Hai nước Trung Quốc và Việt Nam có lịch sử quan hệ tốt đẹp. Thứ trưởng nhìn nhận ra sao về tình hình tranh chấp trên biển thời gian qua?
- Lịch sử tốt đẹp là cơ sở để Việt Nam và Trung Quốc giải quyết những tranh chấp trên Biển Đông. Tuy nhiên, không chỉ dựa vào quá khứ mà hiện tại, mỗi người, mỗi ngành của hai bên cùng cố gắng, trong từng việc làm, trong mọi thời điểm thì mới có thể giải quyết được những khác biệt còn tồn tại.
- Những bất đồng cụ thể trong quan hệ hai nước là gì?
- Trong quan hệ hai nước có rất nhiều điểm tương đồng, còn bất đồng là tranh chấp trên Biển Đông, về chủ quyền, về cách ứng xử. Ngắn gọn là hai bên cần phải ứng xử hòa bình, giải quyết vấn đề chủ quyền trên cơ sở luật pháp quốc tế, cụ thể là Công ước luật biển năm 1982 và thực hiện tốt DOC.
- Đề nghị ngài cho biết những ưu tiên trong hợp tác quân sự của Việt Nam với Nga, Mỹ, Trung Quốc?
- Việt Nam có quan hệ quốc phòng với Mỹ, Nga, Trung Quốc và các nước ASEAN, ngoài ra còn có các nước, các tổ chức khác như Ấn Độ, EU. Chúng tôi cũng không quên mối quan hệ rất thân thiết, tốt đẹp dù rất xa xôi là nước Cộng hòa Cuba anh em. Trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, Trung Quốc là một ưu tiên hàng đầu và chính đối ngoại quốc phòng của Việt Nam cũng vậy.
Tại Đối thoại chiến lược quốc phòng Việt Nam-Trung Quốc lần thứ tư, hai bên đã ký Thỏa thuận Về việc xây dựng đường dây thông tin điện thoại nối thẳng giữa Bộ Quốc phòng hai nước.
Trong thời gian qua, quan hệ Việt Nam-Trung Quốc có nhiều điểm tích cực, bên cạnh đó, cũng có những khó khăn phức tạp như mọi người đều biết. Là người hiểu rõ quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, tôi cho rằng tình hình không quá đáng lo ngại, gây bức xúc như một số biểu hiện trong thời gian qua. Tôi tin tưởng rằng hai nước sẽ vượt qua được khó khăn để xây dựng tình hữu nghị bền vững giữa hai dân tộc.
Theo Quân đội Nhân dân

Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2013

Lincoln và bên thắng cuộc

T/S Alan Phan
15 Feb 2013
Tết rồi, một người bạn Nhật Bản không về nước nên mời tôi xông đất theo tục lệ Việt; rồi ăn tối. Sau đó, cả 2 gia đình mở lên cuốn phim mới “Lincoln” để cùng ngồi coi. Cuốn phim bắt nguồn từ một cuốn sách khảo sát và tổng hợp các sự kiện lịch sử trong 4 tháng sau cùng của cuộc đời Tổng Thống Mỹ Lincoln (Tác giả: Doris Kearns Goodwin‘s ; tên sách, Team of Rivals: The Political Genius of Abraham Lincoln). Thời điểm là tháng giêng năm 1865, vào những ngày cuối của cuộc Nội Chiến Bắc Nam (Civil War); đã kéo dài 4 năm và đã tổn phí 600,000 sinh mạng của lính 2 bên.
Lãnh tụ của bên thắng cuộc
Lúc này, phần thắng coi như đã trong tầm tay của miền Bắc (đội Union). Miền Nam (đội Confederate) đang xin thương thuyết một cuộc đầu hàng với vài lá bài còn lại. Cho những ai chưa quen thuộc với cuộc Nội Chiến, nguyên nhân bắt đầu là sự xóa bỏ chế độ nô lệ trong xã hội Mỹ. Kinh tế miền Nam, chủ yếu là đồn điền nông trại, rất cần các nô lệ từ Phi Châu để điều hành. Sự giải phóng nô lệ (một loại tài sản) sẽ tạo mất mát và khủng hoảng kinh tế sâu rộng; trong khi miền Bắc không chịu ảnh hưởng kinh tế này nên chỉ muốn tiến tới một xã hội công bằng và nhân quyền của mọi người được tôn trọng hơn.
Lincoln vừa thắng cử nhiệm kỳ hai và được cử tri bình dân yêu chuộng nhờ tài hùng biện trên các diễn đàn và lối sống giản dị; trong khi các tầng lớp thượng lưu của giới chánh trị và tư bản không mặn mà với những tư duy tiến bộ mà họ cho là quá mạo hiểm cho quốc gia.
Câu chuyện quay quanh cố gắng của Lincoln lấy cho được sự chấp thuận của Hạ Viện (cần 2/3 số phiếu) để thông qua Tu Chính số 13 của Hiến Pháp Mỹ đặt “hệ thống sở hữu và điều hành nô lệ ngoài vòng pháp luật” trên mọi tiểu bang. Lý do là dù thắng trận, nếu nô lệ vẫn còn là “tài sản hợp pháp” của người dân và tùy thuộc vào luật lệ của tiểu bang, ý nghĩa sự thắng trận của phe miền Bắc coi như công cốc. Trong khi đó, vì chiến thắng đã cận kề và mọi người đã mỏi mệt qua 4 năm mất mát, nên dù đảng Cộng Hòa hay Dân Chủ,  không ai muốn đụng chạm đến chuyện “nô lệ” này nữa.
Cuối cùng, Lincoln và những người nô lệ hân hoan mừng thắng cuộc, trên chiến trường và nghị trường, đem vấn đề nô lệ ra khỏi lịch sử Mỹ từ đó. Hai tháng sau, Lincoln bị ám sát chết và 143 năm sau, Obama trở thành Tổng Thống da mầu đầu tiên của Mỹ.
Cuốn phim dàn dựng rất công phu và chi tiết theo đúng lối hấp dẫn khán giả của đạo diễn Spielberg; nhưng ngoài việc đang được đề cử cho giải Oscar của phim hay nhất trong năm, phim còn là một bom tấn trên thị trường. Điều này hơi lạ vì không ai nghĩ là người dân Mỹ quan tâm đến một đề tài khô khan của lịch sử, nhất là những tranh luận và thủ thuật chánh trị trong quá khứ xa vời. Với tôi, ấn tượng nhất là cuốn sách và phim “Lincoln” đã giúp cho tôi 4 góc nhìn mới về các sự kiện 150 năm về trước trong bối cảnh của thực tại hiện nay.
  1. 1.      Đây mới gọi là nghiên cứu và khảo sát lịch sử
Rất nhiều tư tưởng hiện tại về quốc gia, về các nhân vật lịch sử và về hệ quả của các hành xử chính trị hay quân sự thường dựa trên những định kiến và những tài liệu xa xưa chứa nhiều huyền thoại và sai lầm. Ngay cả trong 100 năm trở lại đây, khi tiến bộ về khoa học và nhân văn đã phổ thông toàn cầu, phần lớn những trích dẫn về dữ kiện lịch sử của Việt Nam lại đến từ ghi chép của các sử gia nước ngoài. Các tài liệu tôi đã đọc về sử Việt cho thấy những bài viết rất hời hợt, chủ quan và mang tính cách tuyên truyền cho một trường phái nào đó trên quan điểm chánh trị hay xã hội (đây là kết luận có thể sai lầm của tôi vì chưa đọc nhiều và đủ từ các sử gia Việt?).
Ngay cả khi một giả thuyết nghi ngờ về thân thế của một nhân vật lịch sử quan trọng xuất hiện trên mạng, đề tài này được bàn tán sôi nổi vì bí mật bao quanh sự kiện. Một cuộc khảo sát DNA mất 5 phút có thể cho ta lời giải đáp chính xác. Nhưng không một sử gia nào được phép liên quan. Khi khoa học và minh bạch đi vắng, thì góc nhìn của mọi người nhất định phải bị méo mó và thui chột.
Cuốn sách của Goodwin chỉ phủ trùm 4 tháng của cuộc đời Lincoln và chì đặt trọng tâm vào sự kiện Tu Chính 13 của Hiến Pháp Mỹ. Nhưng những chi tiết trích dẫn cho thấy một công trình khoa học, khách quan và có thể dậy cho chúng ta phân biệt thế nào là “lịch sử” và thế nào là “tiểu thuyết”. Những cái hay, cái đẹp, cái thiện được phơi bày rõ ràng cùng với những cái dở, cái xấu, cái ác…của các nhân vật và môi trường sinh hoạt 148 năm trước. Ngay cả những rắc rối khó khăn trong gia đình Lincoln, nhất là vấn đề của vợ con, cũng được phơi bày tường tận.
Santayana nói là những ai quên quá khứ sẽ phải trả giá cho sự tái diễn. Liệu sự ngu dốt của chúng ta về “sự thật” không nhuốm mầu chánh trị trong các sự kiện lịch sử chỉ mới xẩy ra chưa đến 100 năm có thể là một gánh nặng văn hóa và tư duy cho nhiều thế hệ sau này của Việt Nam?
  1. 2.      Chính trị gia thời nào nơi nào cũng thế
Trong cuộc tranh giành từng lá phiếu để thông qua Tu Chính 13, Lincoln và phe nhóm ông ta đã phải dùng đến rất nhiều thủ thuật để có đủ 2/3 số phiếu. Họ đã phải hối lộ (không bằng phong bì mà bằng những ban phát phát chức vụ trong chánh quyền mới), phải thỏa hiệp với những tay thao túng lợi ích (power brokers), phải chia để trị, phải đe dọa, phải dỗ dành….Tóm lại, tất cả những sắp xếp sau hậu trường (horse-trading) không khác gì những gian dối mua bán quyền lực và lợi ích ngày nay trên các sân khấu chánh trị từ Âu Mỹ đến Phi Á.
Quyền lợi cá nhân của đa số chính tra gia luôn đặt trên các lợi ích quốc gia hay lý tưởng cộng đồng. Do đó, nếu không có một thể chế phân quyền và minh bạch, sự lạm dụng quyền lực sẽ luôn luôn đi quá đà và tạo nên những thao túng pháp luật vô cùng trắng trợn và táo bạo.
Sự khôn ngoan của các bậc trí thức khi tạo dựng hiến pháp Mỹ và các tuyên ngôn dân quyền đã đem sự ổn định chánh trị và xã hội của Mỹ trong suốt 250 năm qua.
  1. 3.      Tinh thần thượng tôn pháp luật
Lý do chính khiến Lincoln phải vội vã đưa ra biều quyết cho Tu Chính 13 khi chiến thắng của miền Bắc đã gần kề là sự giải thích pháp luật theo cái nhìn của một luật gia với mọi văn kiện pháp lý. Theo Lincoln, nếu hiến pháp không đặt chuyện “nô lệ” ra ngoài vòng pháp luật, thì luật vẫn cho nô lệ là một tài sản và thuộc quyền xử lý của tiểu bang. Tóm lại, dù thắng trận, chánh phủ liên bang cũng không có quyền đụng đến “tài sản của dân” và không thể áp buộc các chủ nô lệ phải “giải phóng” hay “ chịu sự tước đoạt” của bất cứ thẩm quyền nào.
Ở xứ Trung Quốc, khi quan điểm của ông Chủ Tịch Mao là “ người cầm súng đặt ra luật lệ” thì không ai thắc mắc về những văn kiện hay điều lệ tiềm ẩn có thể gây tranh cãi tại các tòa án. Chính vì vậy, Lincoln đã tốn bao nhiêu vốn chính trị, đêm không ngủ, thực thi kế sách…để Tu Chính 13 được Hạ Viện thông qua. Tinh thần thượng tôn pháp luật của 1 vị Tổng Thống quyền lực và vừa thắng trận 148 năm trước không biết có làm các lãnh tụ bé hon ngày nay phải xấu hổ vì sự ngạo mạn chà đạp lên mọi luật lệ và công lý của xã hội?
  1. 4.      Không trả thù bại quân và dân và không cướp giật tài sản
Tuy nhiên, điều ấn tượng nhất trong cuốn sách là hai tuần trước khi miền Nam chính thức đầu hàng, Lincoln đã gặp tướng U. S. Grant, thống soái đạo quân miền Bắc cùng các tướng lãnh chỉ huy khác, và dặn dò đi lại nhiều lần là,” khi chiến tranh chấm dứt, hãy trả tự do mọi tù nhân chiến tranh (bại quân và bại dân) và giúp họ quay về nhà sớm để mưu sinh lo cho gia đình. Tuyệt đối không được đụng đến tài sản của dân (dù thua cuộc, tất cả bây giờ đều là công dân), không được trả thù và phải nghiêm trị mọi vi phạm pháp luật, nhất là của các quan cán chức hay binh sĩ của phe thắng trận”.
Ngoài ra, trong những đề nghị ngân sách các năm sau đó, các lãnh tụ kế tiếp của miền Bắc đã luôn dành ưu tiên cho việc tái thiết miền Nam để hàn gắn những đổ vỡ về vật chất cũng như tinh thần.
Tinh thần nhân hậu và cách đối xử văn minh của phe lãnh đạo miền Bắc đã tạo nên một tiền lệ lịch sử cho tinh thần xứ Mỹ: luôn luôn chăm lo cho phe thua cuộc hơn là băm xẻ những miếng mồi ngon bở cho phe nhóm mình. Sau trận thắng huy hoàng ở Thế Chiến 2, Mỹ đã bơm nhiều tỷ đô la thời đó vào chương trình Marshall để tái thiết Âu Châu và MacArthur đã giúp Nhật rất nhiều để xây một nền tảng pháp lý mới cho một nền kinh tế mới.
Nhân và quả của một chánh sách
Bản chất nhân hậu, lương thiện, tôn trọng luật pháp và đặt lợi ích quốc gia trên quyền lợi cá nhân đã biến Lincoln thành một vị Tổng Thống vĩ đại của nước Mỹ. Cùng với các thận cần như Tướng Grant, các Bộ Trưởng Seward, Stanton…họ đã thay đổi định mệnh của xứ Mỹ. Chỉ 25 năm sau, mọi thành kiến, thù hận về cuộc nội chiến đã được xóa bỏ trong lòng người dân Mỹ. Giữa hai bên, phe thắng cuộc và thua cuộc, những rào cản pháp lý hay xã hội không cón hiện diện. Atlanta vươn lên từ đống tro tàn và trở thành một trong những thành phố đáng yêu nhất của miền Nam.
40 năm sau đó, xứ Mỹ qua mặt đế chế Anh về kinh tế và trở thành một đế chế siêu cường chỉ 60 năm sau nội chiến tương tàn để thay thế cho đế chế Anh vừa tàn lụi.
Tôi nói với người bạn Nhật,” nếu chúng tôi có một lãnh tụ như Lincoln 150 năm trước, lịch sử Việt Nam sẽ thay đổi nhiều.” Anh bạn cười, “Lúc đó, chúng tôi phải xếp hàng chờ qua Việt Nam để học hỏi các anh.”
Sao dân tộc Mỹ may mắn đến thế?
Alan Phan

Về một con virut giữa đường

Cách đây 3 tháng, tâm hồn và thể xác tôi tràn đầy năng lượng và niềm tin vào tương lai cho cá nhân. Tôi vừa quyết định rời bỏ chức vụ và công việc ở Quỹ Viasa sau 12 năm gắn bó và ngồi vẽ ra một kế hoạch kinh doanh mới cho sự nghiệp. Tôi mơ mộng là mình có thể như Colonel Sanders của KFC; chỉ thành công ở tuổi trên 72 và tạo ra một tài sản có giá trị lớn hơn tất cà tài sản của cuộc đời làm ăn 75 năm trước đó.
Tôi say sưa lao đầu vào các ý tưởng sáng tạo, liên hệ lại các bạn đồng môn khắp thế giới, nhận và chia sẻ những phản hồi, nghiên cứu, đề nghị…, cũng như tìm đối tác và cộng tác viên phụ giúp. Tôi cũng bay đi nhiều nơi để thảo luận và thương lượng. Ngọn lửa mới bừng lên trong lòng tôi những niềm vui và hy vọng mới; cũng như những thất vọng khó tránh khi đào sâu vào bất cứ vấn đề nào. Tôi mất cân bằng trong việc chăm sóc phần cơ thể và tinh thần.
Một gặp gỡ tình cờ
Cho đến một buổi chiều…tôi gặp đồng chí vi rút “lạ”. (Muốn đặt tên là X nhưng sợ bị phạm húy). Không tên, không hình dạng, không cả chào hỏi, nàng vi rút đi vào đời tôi rất tự nhiên như người nhà…và chỉ vài giờ đồng hồ sau, tôi bò càng trên giường với ho hen, đờm mũi và một tình trạng tệ hơn những khi tình cùng tiền rủ nhau đi chơi …Tôi phải hủy chuyến đi Mỹ vào giữa tháng 11 và cho đến hôm nay, sau lễ Giáng Sinh, nàng vi rút vẫn lưu luyến bên tôi không muốn rời bỏ.
Ông bác sĩ tóc bạc phơ mắng tôi không tiếc lời.  Ông lập đi lập lại những cảnh báo ông đã khuyên tôi hơn 15 năm trước. Rằng một thế quân bình trong thiên nhiên luôn hiện diện ở mọi nơi. Tất cả các lực xấu tốt đều có mặt và đều chung sống hòa bình nếu tương quan lực lượng cân bằng. Cho đến một ngày, khi phe ác hay phe thiện yếu đi, chiến tranh hay tranh chấp sẽ xẩy ra và kẻ mạnh sẽ thắng. Đôi khi là những con vi rút không tên cực kỳ hiểm độc, đôi khi là một môi trường sống vô cùng khắc nghiệt, đôi khi lại có thể là một hài hòa tuyệt diệu của tạo hóa. Nhìn ra xã hội, khi cái Ác lên ngôi, những tha hóa suy đồi vô cảm ngự trị. Khi Chân Thiện Mỹ là chỉ nam thì đó là thời cực thịnh của đạo đức thánh hiền.
Sức mạnh nội tại
Vì xao lãng chăm sóc cho sức mạnh nội tại của cơ thể và giữ vững sức đề kháng, tôi đã mời gọi các bác vi rút vào nhà tàn phá. Ông nói cứ nhìn 6 tháng qua, sức khỏe anh đã xuống cấp tồi tệ và giải pháp duy nhất là quên moị chuyện khác trong đời sống mà quay về chăm chú vào thân thể. Ông ra lệnh là 6 tháng tới, tôi không được đụng tay vào bất cứ dự án kinh doanh nào. Toàn thời gian, chỉ thuần túy tập luyện thân thể và theo một chương trình ăn uống bổ dưỡng trong lành. Sợ chết thì phải nghe lời ông bác sĩ già này vậy.
Tôi cũng đã suy nghĩ nhiều về sự so sánh của ông trong 15 năm qua và không có gì để phản bác. Nhưng đầu óc rảnh rang, tôi lại liện tưởng đến những tư duy về chuyện nhỏ là sức khỏe của cá nhân mình và một chuyện lớn hơn là sức khỏe của cả xã hội.
Nhìn ra xã hội
Mọi quốc gia lớn nhỏ mạnh yếu đều có một sức mạnh nội tại nào đó thể hiện qua các tài sản cứng mềm, cũng như những hình thức thế đứng trong thể chế kinh tế, chánh trị, quân sự hay văn hóa toàn cầu. Chúng tạo nên một sức đề kháng chống lại những tấn công làm suy yếu hệ thống và đôi khi tan rã chế độ quyền lực. Hiện nay, khi khối tư bản thắng thế, sức mạnh và tài sản kinh tế thường quyết định sự cân bằng lực lượng.
Khi nhìn lại mùa xuân Á Rập vừa rồi ,tôi nghĩ rằng các ông Mubarak hay Ghadafi chắc phải có cái nhìn sai lạc về khả năng đề kháng của chế độ các ông trước thực tại mới của tình hình thế giới và nội địa cúa Ai Cập hay Lybia thời đó. Sự sai lầm về nhận định và phân tích về kinh tế của các ông là những nguyên nhân chính gây sự đỗ vỡ cho sự nghiệp. Các ông quên rằng trong nền chánh trị toàn cầu của tư bản, thị trường quyết định tất cả và khi dân chúng lo sợ cho sự bất ổn về thu nhập hay an sinh xã hội, cùng những bất công của các giai cấp, là lúc họ bày tỏ sự bất mãn nhiều nhất.
Cuối cùng, kinh tế, không phải chánh trị, sẽ quyết định bàn cờ lịch sử. Các lãnh đạo Mỹ, Nhật, Âu, Úc và cả Trung Quốc đều hiểu rõ điều này.
Mối đe dọa thực sự
Và những nhóm được xếp hạng vào “các thế lực thù địch” cũng hiểu rõ điều này. Là cường quốc số 1 của thế giới, không quốc gia nào có nhiều thế lực thù địch như Mỹ. Từ những anh chị đánh võ mồm đến các tay ôm bom thứ thiệt, các nhóm thù địch Mỹ, trong và ngòai nước, nhiều hơn các vi rút trong những ống cống. Tuy nhiên, lãnh đạo Mỹ vẫn tự tại bình thản vì sức đề kháng nội tại khá cao trong đó sự ổn định của kinh tế và sự thỏa mãn của đa số người dân là hai yếu tố then chốt. Trong khi đó, qua sự che dấu và trốn tránh, chúng ta có thể thấy rõ sự yếu kém về sức đề kháng của xã hội Trung Quốc. Chỉ cần một vài con vi rút tình cờ gặp giữa đường, cả một hệ thống có thể nằm liệt giường như ông già Alan.
Nói cho cùng, ở bất cứ xã hội nào, cuộc sống con người vẫn vô cùng mong manh. Tôi nhìn những ngọn gíó đông cuốn đi không thương tiếc những chiếc lá xanh  còn sót lại của mùa thu mà luôn ngỡ ngàng. Trong cái quân bình mong manh đó, chỉ cần một con vi rút không tên, không hình dạng…cũng đủ làm hoảng loạn cà một hệ thống mà ai củng cho là bền vững. Một chiếc máy tính mới toanh, một quân đội hùng mạnh bậc nhất, một hệ thống kiểm soát an toàn thật chặt chẽ.
Gần đây, người ta nói nhiều về ngày tận thế. Những kịch bản hấp dẫn là sự xâm lược của người ngoài hành tinh, thiên thể rơi từ vũ trụ, thiên tai của biến đổi khí hậu…Tôi thì lại cho rằng văn minh hiện nay của nhân loại (hay một vài chế độ nào đó) có thể bị chôn vùi trong cát bụi bằng những con vi rút rất bình thường của thiên nhiên, không tên, không hình dạng và không báo trước.
Alan Phan

Thứ Năm, 13 tháng 6, 2013

Công bố kết quả lấy phiếu tín nhiệm 47 lãnh đạo cao cấp

(TNO) Kết quả lấy phiếu tín nhiệm 47 chức danh chủ chốt do Quốc hội (QH) bầu hoặc phê chuẩn vừa được công bố sáng nay 11.6. Theo kết quả, Phó Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân có số phiếu tín nhiệm cao đạt tỷ lệ cao nhất với 372 phiếu, người có tỷ lệ phiếu tín nhiệm thấp cao nhất là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình với 209 phiếu.

Hình thức công bố là tỷ lệ phiếu cụ thể ở 3 mức tín nhiệm của từng chức danh, gồm tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp.
Theo đó, tổng số ĐBQH 498 người, do vậy tất cả các số liệu so sánh là so với tổng số ĐBQH. Cụ thể:
Danh sách 47 vị được lấy phiếu tín nhiệmTín nhiệm caoTín nhiệmTín nhiệm thấp
1. Trương Tấn Sang - Chủ tịch nước330 (66,27%)133 (26,71%)28 (5,62%)
2. Nguyễn Thị Doan - Phó chủ tịch nước263 (52,81%)215 (43,17%)13 (2,61%)
3. Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội328 (65,86%)139 (27,91%)25 (5,02%)
4. Uông Chu Lưu - Phó chủ tịch Quốc hội323 (64,86%)155 (31,12%)13 (2,61%)
5. Nguyễn Thị Kim Ngân - Phó chủ tịch Quốc hội372 (74,7%)104 (20,88%)14 (2,81%)
6. Tòng Thị Phóng - Phó chủ tịch Quốc hội322 (64,66%)145 (29,12%)24 (4,82%)
7. Huỳnh Ngọc Sơn - Phó chủ tịch Quốc hội252 (50,6%)217 (43,57%)22 (4,42%)
8. Phan Xuân Dũng - Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường234 (46,99%)235 (47,19%)22 (4,42%)
9. Nguyễn Văn Giàu - Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế273 (54,82%)204 (40,96%)15 (3,01%)
10. Trần Văn Hằng - Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại253 (50,8%)229 (45,98%)9 (1,81%)
11. Phùng Quốc Hiển - Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách291 (58,43%)189 (37,95%)11 (2,21%)
12. Nguyễn Văn Hiện - Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp210 (42,17%)253 (50,8%)28 (5,62%)
13. Nguyễn Kim Khoa - Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh267 (53,61%)215 (43,17%)9 (1,81%)
14. Phan Trung Lý - Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật294 (59,04%)180 (36,14%)18 (3,61%)
15. Trương Thị Mai - Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội335 (67,27%)151 (30,32%)6 (1,2%)
16. Nguyễn Thị Nương - Trưởng ban Công tác đại biểu292 (58,63%)183 (36,75%)17 (3,41%)
17. Nguyễn Hạnh Phúc - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội286 (57,43%)194 (38,96%)12 (2,41%)
18. Ksor Phước - Chủ tịch Hội đồng Dân tộc260 (52,21%)204 (40,96%)28 (5,62%)
19. Đào Trọng Thi - Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Giáo dục - Thanh niên - Thiếu niên và Nhi đồng241 (48,39%)232 (46,59%)19 (3,82%)
20. Nguyễn Tấn Dũng - Thủ tướng Chính phủ210 (42,17%)122 (24,5%)160 (32,13%)
21. Hoàng Trung Hải - Phó thủ tướng Chính phủ186 (37,35%)261 (52,41%)44 (8,84%)
22. Nguyễn Thiện Nhân - Phó thủ tướng Chính phủ196 (39,36%)230 (46,18%)65 (13,05%)
23. Vũ Văn Ninh - Phó thủ tướng Chính phủ167 (33,53%)264 (53,01%)59 (11,85%)
24. Nguyễn Xuân Phúc - Phó thủ tướng Chính phủ248 (49,8%)207 (41,57%)35 (7,03%)
25. Hoàng Tuấn Anh - Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch90 (18,07%)286 (57,43%)116 (23,29%)
26. Nguyễn Thái Bình - Bộ trưởng Bộ Nội vụ126 (25,3%)274 (55,02%)92 (18,47%)
27. Nguyễn Văn Bình - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước88 (17,67%)194 (38,96%)209 (41,97%)
28. Phạm Thị Hải Chuyền - Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội105 (21,08%)276 (55,42%)111 (22,29%)
29. Hà Hùng Cường - Bộ trưởng Bộ Tư pháp176 (35,34%)280 (56,22%)36 (7,23%)
30. Trịnh Đình Dũng - Bộ trưởng Bộ Xây dựng131 (26,31%)261 (52,41%)100 (20,08%)
31. Vũ Đức Đam - Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ215 (43,17%)245 (49,2%)29 (5,82%)
32. Vũ Huy Hoàng - Bộ trưởng Bộ Công Thương112 (22,49%)251 (50,4%)128 (25,7%)
33. Phạm Vũ Luận - Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo86 (17,27%)229 (45,98%)177 (35,54%)
34. Phạm Bình Minh - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao238 (47,79%)233 (46,79%)21 (4,22%)
35. Cao Đức Phát - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn184 (36,95%)249 (50%)58 (11,65%)
36. Giàng Seo Phử - Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc158 (31,73%)270 (54,22%)63 (12,65%)
37. Trần Đại Quang - Bộ trưởng Bộ Công an273 (54,82%)183 (36,75%)24 (4,82%)
38. Nguyễn Minh Quang - Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường83 (16,67%)294 (59,04%)104 (20,88%)
39. Nguyễn Quân - Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ133 (26,69%)304 (61,04%)43 (8,63%)
40. Nguyễn Bắc Son - Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông121 (24,3%)281 (56,43%)77 (15,46%)
41. Phùng Quang Thanh - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng323 (64,86%)144 (28,92%)13 (2,61%)
42. Đinh La Thăng - Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải186 (37,35%)198 (39,76%)99 (19,88%)
43. Nguyễn Thị Kim Tiến - Bộ trưởng Bộ Y tế108 (21,69%)228 (45,78%)146 (29,32%)
44. Huỳnh Phong Tranh - Tổng thanh tra Chính phủ164 (32,93%)241 (48,39%)87 (17,47%)
45. Bùi Quang Vinh - Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư231 (46,39%)205 (41,16%)46 (9,24%)
46. Trương Hòa Bình - Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao195 (39,16%)260 (52,21%)34 (6,83%)
47. Nguyễn Hòa Bình - Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao198 (39,76%)269 (54,02%)23 (4,62%)
Cách đây ít phút, QH vừa biểu quyết thông qua Nghị quyết về lấy phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt do QH bầu hoặc phê chuẩn, trong đó nêu rõ tỷ lệ mức độ tín nhiệm của từng người.
Có 477 tham gia biểu quyết, 471 tán thành, chiếm 94,58% tổng số ĐBQH.
Phát biểu kết thúc nội dung lấy phiếu tín nhiệm, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh: QH đã hoàn thành trọng trách nhân dân cả nước giao cho chúng ta, tin tưởng qua lần này chúng ta sẽ rút kinh nghiệm không chỉ làm tốt ở QH những năm sau mà còn rút kinh nghiệm chung cho việc lấy phiếu tín nhiệm ở cấp HĐND theo hướng thận trọng, khách quan, chính xác.
Theo lịch làm việc, chiều nay sau khi thảo luận về dự kiến Chương trình hoạt động giám sát của QH năm 2014 tại hội trường, QH sẽ họp kín nghe báo cáo về tình hình, diễn biến mới về biển Đông.
Bảo Cầm - Anh Vũ

Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013

10 quốc gia có sức mạnh quân sự lớn nhất thế giới


Website quân sự nổi tiếng Global Firepower vừa đưa ra bảng xếp hạng 10 quốc gia có sức mạnh quân sự lớn nhất thế giới, theo đó Mỹ và Nga là hai quốc gia dẫn đầu và vượt xa những nước khác về tiềm lực quốc phòng.

Global Firepower (tạm dịch: hỏa lực toàn cầu) đã dựa trên 40 chỉ số khác nhau để đánh giá năng lực quân sự của mỗi quốc gia, bao gồm cả số lượng máy bay, nhân lực sẵn có, lực lượng dự bị. “Chỉ số sức mạnh” (Power Index) được đưa ra thấp hơn tương đương với quốc gia đó có tiềm lực quân sự mạnh hơn.
 
Bảng xếp hạng không đưa khả năng hạt nhân vào để tính thành một chỉ số xem xét. Tuy nhiên, trên thực tế, 2 quốc gia đứng đầu bảng xếp hạng cũng là 2 quốc gia có số lượng đầu đạn hạt nhân vượt xa mọi quốc gia khác trên thế giới, Nga có 8.500 đầu đạn hạt nhân và Mỹ có 7.700 đầu đạn hạt nhân.
PHAN SƯƠNG

Theo Infonet

10 quốc gia có chi phí sinh hoạt rẻ nhất thế giới


Ấn Độ là nước có chi phí sinh hoạt rẻ nhất thế giới, với mức 650 USD một gia đình có thể sống tại đây trong vòng một tháng.

10. Brazil
Brazil không chỉ nổi tiếng với những dòng sông, thác nước thơ mộng mà còn bởi chính sách kinh tế hợp lý của chính phủ. Điều này khiến cho chi phí hàng hóa và dịch vụ tại đây thấp hơn so với những quốc gia láng giềng. Ước tính, một gia đình chỉ cần 3.000 USD để sống tại Brazil trong một tháng.
9. New Zealand                                                          
New Zealand được công nhận là một trong những quốc gia yên bình nhất thế giới. Đây là nơi con người có thể chiều chuộng bản thân với cuộc sống xa hoa mà không phải tiêu tốn quá nhiều tiền bởi quốc gia này nổi tiếng với chi phí sống hợp lý. Bên cạnh đó, New Zealand còn có những khu rừng ngút ngàn, hay những đồng cỏ và thung lũng xinh đẹp. Quốc gia này cũng được biết đến với thịt bò nguyên chất và các sản phẩm sữa chất lượng cao. Chi phí sống trung bình mỗi tháng cho một gia đình tại đây là 2.500 USD.
8. Mexico
Mexico được biết đến là một trong những quốc gia tuyệt vời nhất thế giới. Phong cảnh xinh đẹp, làn gió tươi mát trên những bãi biển và khu rừng thơ mộng, cùng với giá cả hợp lý là những lý do hết sức thuyết phục để quyết định sống và trải nghiệm tại nơi đây. Một gia đình có thể sống tại Mexico với 2.000 USD mỗi tháng.
7. Morocco
Morocco là một trong những quốc gia tươi đẹp và ổn định nhất trong khu vực Bắc Phi. Điều kiện kinh tế của nước này rất ổn định và có triển vọng. Nơi đây cũng mang đến những cơ hội đầy hứa hẹn cho người dân. So với các quốc gia châu Phi khác, sinh sống tại Morocco sẽ đòi hỏi chi phí khiêm tốn hơn rất nhiều. Người ta có thể nuôi sống cả gia đình chỉ với 55 USD/tuần và thậm chí có thể thưởng thức bia mỗi ngày với chỉ 40 USD/tuần.  Cuộc sống tại Morocco đòi hỏi chi phí ít nhất 1.800 USD/tháng cho một gia đình.
6. Bali, Indonesia
Mặc dù khá nhỏ nhưng Bali là một trong những hòn đảo đẹp nhất tại châu Á. Nơi đây luôn là một điểm thu hút khách du lịch quốc tế với giá cả dịch vụ và hàng hóa cũng hợp lý. Bali cũng nổi tiếng với rất nhiều bãi biển, núi lửa và các khu rừng nhiệt đới. Sẽ chỉ cần khoảng 1.500 USD/tháng cho một gia đình để sống tại hòn đảo này.
5. Hy Lạp
Hy Lạp là vùng đất của các nhà khoa học và triết gia cổ đại. Quốc gia này sở hữu những bãi biển xanh trong và kiến trúc nhà ở độc đáo trên sườn đồi và đỉnh núi. Cảnh quan tuyệt đẹp và khí hậu trong lành cũng làm tôn lên vẻ đẹp nơi đây. Ngoài ra, Hy Lạp mang đến những cơ hội đầy hứa hẹn cho người dân và khách du lịch bởi chi phí sinh hoạt cũng thấp hơn nhiều so với các quốc gia châu Âu khác. Bạn hoàn toàn có thể dễ dàng tìm mua hoặc thuê một ngôi nhà trên đảo tại đây với giả rất phải chăng. 1.000 USD/tháng là chi phí sống trung bình cho một gia đình tại Hy Lạp.
4. Croatia
Châu Âu nổi tiếng với những điểm đến xinh đẹp, trong đó có Croatia. Nơi đây có phong cảnh tuyệt đẹp, thu hút vô số khách du lịch trên khắp hành tinh. Một trong những điểm thu hút của quốc gia này đó là giá cả sống không tăng nhiều và thường xuyên do chính sách kinh tế nghiêm ngặt của chính phủ. Để sinh sống trong một tháng tại đất nước này, một gia đình chỉ cần 980 USD.
3. Peru
Peru sở hữu vố số cảnh đẹp với rừng mưa nhiệt đới cung cấp khí hậu lý tưởng cho người dân. Thêm vào đó, giá dịch vụ và hàng hóa tại đây cũng thấp đáng kể. Ngành công nghiệp khai thác và vận chuyển cũng được đầu tư  rất nhiều do nền kinh tế ổn định của Peru. Một gia đình có thể tận hưởng cuộc sống tại Peru chỉ với 920 USD/tháng.
2. Sri Lanka
Nơi đây đã từng được gọi là Cylon – một hòn đảo xinh đẹp bậc nhất thế giới của Sri Lanka. Quốc gia này có những khu rừng và bãi biển đẹp hút hồn khiến cho bất cứ ai ghé thăm cũng đều phải kinh ngạc. Ngoài những địa điểm du lịch thu hút, giá cả hàng hóa và dịch vụ tại Sri Lanka cũng tương đối rẻ bởi nền kinh tế nơi đây phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn lực nội địa. Một gia đình trung bình có thể sinh sống với 830 USD/tháng.
1. Ấn Độ
Ấn Độ là một trong những quốc gia đông dân nhất thế giới. Mặc dù vô cùng thịnh vượng trong lĩnh vực giải trí và thương mại, nơi đây vẫn là quốc gia có chi phí sống khiêm tốn nhất. Do sự cách biệt trong thu nhập của người dân, Ấn Độ đã phải giữ cho giá cả luôn ở mức tối thiểu để các hộ gia đình với mức thu nhập khiêm tốn vẫn có thể sinh hoạt bình thường. Chi phí sinh sống ở Ấn Độ cho một gia đình chỉ khoảng 650 USD/tháng.
PHONG LÂM
Theo Therichest/Infonet